Welcome to

Hiệp hội Sơn - Mực In Việt Nam

Giới thiệu chung
Hiệp Hội Sơn – Mực in Việt Nam được thành lập vào ngày 25/04/2008 tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Tên tiếng Anh: Vietnam Paint & Printing Ink Association
Tên viết tắt: VPIA
Trụ sở Hiệp hội:
Phòng 102, Vp. Đăng Minh, L11- L12 Khu Dân cư Miếu nổi, Phường 3, Quận Bình Thạnh, TPHCM
ĐT: (028) 3517 1967 - Fax: (028) 3517 6014
Email: vpia@vpia.org.vn
Website: www.vpia.org.vn

Hiệp hội Sơn - Mực in Việt Nam - VPIA

Mục tiêu của VPIA
Là tiếng nói của ngành, Hiệp Hội sơn – mực in Việt Nam nâng cao hiệu quả trong các hoạt động của mình để mang lại lợi ích tốt nhất của các hội viên. Hợp tác với các cơ quan chức năng của nhà nước và cộng đồng để đẩy mạnh việc phát triển bền vững thông qua việc cung cấp các sản phẩm có chất lượng, an toàn, sức khỏe và bảo vệ môi trường.

Sứ mệnh của VPIA
– Tham gia và cộng tác với các cơ quan chức năng của nhà nước các cấp, liên quan đến việc ban hành các văn bản pháp qui của ngành, với mục đích mang lại lợi ích tốt nhất cho cộng đồng, xã hội, môi trường và ngành công nghiệp sơn –mực in.
– Đại diện cho ngành công nghiệp Sơn– Mực in trước nhà nước, chính quyền và xã hội.
– Cung cấp các thông tin và dịch vụ tư vấn liên quan đến ngành nghề.
– Thúc đẩy trách nhiệm xã hội trong nội bộ ngành công nghiệp sơn- mực in Việt Nam
– Thể hiện vai trò đầu tàu và điều hành có trách nhiệm.

Quyết định thành lập Hiệp hội Sơn- Mực in Việt Nam được Bộ Nội Vụ phê duyệt.

Vietnamese business delegations will attend the First India-CLMV (Cambodia, Lao PDR, Myanmar and Việt Nam) Reverse Buyer Seller Meet in India next month.

Next month’s event will be held in Chennai City and aims at implementing Indian cooperation activities with the CLMV countries, as part of the Indian Government’s Act East Policy, with a focus on promoting cooperation with the ASEAN region, including CLMV nations.

Việt Nam’s Ministry of Industry and Trade (MoIT) will be the focal point for Việt Nam to organise a delegation of 15 Vietnamese enterprises to attend this event to learn about import and export potential between Việt Nam, CLMV countries and India; as well as the needs, requirements and standards of the market.

The event will also promote and introduce Vietnamese goods and learn about Indian goods and those of other CLMV countries.

Vietnamese companies will join business to business (B2B) trade connection, connect directly with CLMV and Indian businesses, meet and work with a number of large distributors in the Indian market.

MoIT also revealed that the participating firms major in the field of agriculture and fisheries; chemicals and petrochemicals; medical and pharmaceutical products; recycled energy; building infrastructure for connection; devices; cars and automobile components; and service.

The event is organised by Confederation of Indian Industry (CII) in association with Department of Commerce, Ministry of Commerce & Industry, Government of India.

It will take place from October 14 to 18, 2019 at Hotel ITC Grand Chola, Chennai, Tamil Nadu. — VNS

In ấn thông tin, định dạng và lôi cuốn
Không có mực in, chúng ta không sách, không báo hoặc tạp chí, không tiền hay thẻ tín dụng. Mực in đóng một vai trò thiết yếu trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Giúp chúng ta dễ dàng nhận diện và biết được thông tin của hầu hết các hàng hóa tiêu dùng dù là thực phẩm hay là các sản phẩm khác. Khi sử dụng mực in để in trên bao bì hoặc các ấn phẩm, mực in làm cho chúng bắt mắt và tạo sự cuốn hút đặc biệt.

Giá trị đích thực của mực in
Bạn hãy nhìn xung quanh bạn. Bạn nhìn thấy gì? Tấm lịch trên tường trong văn phòng của bạn. Một tờ báo trên bàn. Một quyển tạp chí thời trang tuyệt đẹp mà bạn đã lựa chọn. Một hộp giấy nước hoa quả. Một tập tài liệu mới in mà bạn đang đọc….

Tạp chí, ấn phẩm quảng cáo thời trang, du lịch, đĩa CD, DVD, một hộp bánh… Tất cả sự rực rỡ, đầy màu sắc của các vật dụng trong trong cuộc sống đều phụ thuộc vào mực in. Chúng ta tận hưởng mà không hề chú ý. Mực in là một phương tiện quan trọng để truyền đạt thông tin, giáo dục và làm đẹp cho xã hội của chúng ta.

Mực in – Phát đi giá trị xã hội ….
Khi mực in và lớp tráng vecni, lớp phủ được sử dụng để bảo vệ các hình ảnh in không bị hư hại và trầy xước khi chuyền tay. Như vậy mực in cũng phải có những đặc tính phù hợp với những điều kiện và yêu cầu khác nhau. Chúng ta cần mực in để in hàng ngàn các vật liệu khác nhau và mực in phải chịu được sự khác biệt của nhiệt độ,độ ẩm và điều kiện thời tiết, không bị trôi mực khi sử dụng hoặc tẩy sạch được khi cần. Trong một vài phương thức ứng dụng đặc biệt, mực in dẫn điện, đổi màu khi nhiệt độ thay đổi và giúp chống sự gian lận và hàng giả.

Tuy nhiên sự trung thực của ấn phẩm phải được bảo đảm và giữ sao cho không bị ảnh hưởng bởi các yếu khách quan, đó chính là mục đích của việc sử dụng mực in. Ví dụ bao bì đựng thực phẩm đưa ra chỉ dẫn về chế độ ăn uống, cách bảo quản và sử dụng chính điều đó có thể làm giảm nguy cơ quá hạn sử dụng của sản phẩm. Điều quan trọng và thiết yếu là ứng dụng của mực in trong giáo dục, thông tin, cập nhật cho chúng ta các sự kiện trên thế giới, cảnh báo cho chúng ta biết về các mối nguy hiểm. Mực in cũng giúp chúng ta sự lựa chọn trong cuộc sống, mua sản phẩm nào,nên đi du lịch ở đâu và cả những thông điệp yêu thương mà ta gửi tới những người mình yêu quí. Trong đó gây ấn tượng sâu sắc nhất của mực in là tô điểm sắc màu cho cuộc sống và gia tăng sư tuyệt vời của thế giới nơi chúng ta đang sống.

Những điều cần biết về mực in

Mực in là những sản phẩm làm theo yêu cầu
Mực in là những sản phẩm được phát triển theo yêu cầu, phù hợp với công nghệ in và yêu cầu của người sử dụng. Để phục vụ những yêu cầu này, ngành mực in có hàng nghìn các công thức khác nhau.
Những công thức này được ứng dụng trong các qui trình in khác nhau như in nổi khuôn mềm, in bản kẽm, in ống đồng, in lụa… và phụ thuộc vào qui trình này mực in có thể gốc dung môi, gốc nước, nhựa dầu hoặc đóng rắn UV.
Bởi vì một công thức sẽ không bao giờ đáp ứng được mọi tính khả thi của kỹ thuật cũng như các yêu cầu sử dụng, các nhà sản xuất phải đưa ra những công thức mang đến giải pháp thích hợp cho hầu hết từng yêu cầu mà mực in phải đảm nhiệm.

Mực in là một hỗn hợp của các chất
Mực in, lớp phủ, vecni là các hỗn hợp được sản xuất từ sự kết hợp của các chất màu (bột màu, thuốc nhuộm), chất tạo màng (nhựa, dung dịch nhựa), dung môi và các chất phụ gia. Những nguyên liệu này là những nguyên liệu cơ bản để phát triển nhiều công thức mực in khác nhau. Đặc biệt là những chất phụ gia, mặc dù sử dụng với hàm lượng nhỏ trong công thức nhưng lại hết sức quan trọng, để mực in có thể đáp ứng được những đặc tính cần thiết. Trong lĩnh vực này thực sự là những bí quyết công nghệ và sở hữu trí tuệ của các nhà sản xuất mực in.

Hãy sản xuất mực in không độc hại
Như vậy, mực in sử dụng nhiều hóa chất, mà nhiều chất có thể gây ung thư, biến đổi gen, độc hại cho sinh sản như chì và các hợp chất của chì.

Bất cứ khi nào khi mối nguy hại cho con người hoặc môi trường đã được cảnh báo,ngành mực in hãy hành động,hãy đi tiên phong trong việc loại trừ hay thay thế các chất nguy hiểm trong công thức của mình, trước khi có những văn bản pháp quy có tính bắt buộc được ban hành.

Giá trị đích thực của lớp sơn là làm đẹp và bảo vệ.

Sơn là lớp phủ hoàn thiện trên các vật liệu khác nhau của vô vàn các đồ vật. Rất nhiều các cấu trúc, đồ vật hiện diện trong cuộc sống và xung quanh chúng ta như các bức tường,cửa lớn,cửa sổ của nhà chúng ta, các thiết bị gia dụng, bàn ghế rồi xe hơi, điện thoại di động, máy tính v.v..

Kể cả những công trình lớn như cầu đường, nhà máy thủy điện, dàn khoan dầu khí, nhà máy lọc dầu, bồn chứa xăng dầu hay các đường ống dẫn cũng cần các lớp sơn để bảo vệ và duy trì thời gian sử dụng của chúng.
Một điều thú vị là lớp sơn chỉ chiếm vài phần trăm giá trị của công trình sử dụng nó nhưng sơn lại gần như chiếm 100% về đánh giá giá trị và vẻ bề ngoài của công trình.

Chỉ là một lớp sơn mỏng khoảng vài phần nghìn mét mà có thể ngăn ngừa được sự xuống cấp của các công trình như bị rỉ sét, ăn mòn, hóa chất, nhiệt độ, tia tử ngoại, ẩm ướt, nấm mốc, vi khuẩn… trong những điều kiện khắc nghiệt nhất.

Bằng cách bảo vệ và làm đẹp những bề mặt, lớp sơn và chất phủ làm gia tăng giá trị sử dụng của mọi đồ vật, công trình từ nhà cửa, đồ dùng điện tử đến nhà máy, công trình công nghiệp, tàu thuyền, cầu, cảng v.v… Sự gia tăng giá trị sử dụng này vượt xa rất nhiều số tiền bỏ ra để mua sơn.

Như ngành công nghiệp đóng tầu chẳng hạn. Thật khó tưởng tượng nổi một chiếc tàu biển ra khơi xa mà không có lớp sơn để bảo vệ nó không bị rỉ sét, ăn mòn, làm cho nó được nhận diện và không bị xuống cấp nhanh chóng .
Hãy thử nghĩ xem điều gì sẽ xảy ra với các cầu, cảng, xe tải, xe buýt, máy móc, thiết bị, dàn khoan dầu khí… nếu không có lớp sơn bảo vệ chúng khỏi bị rỉ sét, ăn mòn phá hủy, kể cả đồ gỗ, thủ công mỹ nghệ, lon hộp sử dụng đựng thực phẩm, máy tính, điện thoại di động v.v.. Trên thực tế. tất cả những sản phẩm do con người làm ra đều sử dụng sơn và điều này là cần thiết để bảo vệ và duy trì hiệu quả sử dung lâu dài của những sản phẩm đó .

Lớp sơn còn bảo vệ môi trường của chúng ta bằng cách mà chúng ta không thể tưởng tượng nổi. Nó giúp tiết kiệm năng lượng khi làm cho các tòa nhà mát hơn, là một phần không thể thiếu trong công nghiệp điện phong, đóng góp vào việc giảm hiệu ứng nhà kính– giảm thải CO2.

Sản xuất và sử dụng sơn chất lượng cao sẽ duy trì hiệu quả sự dụng lâu hơn và như vậy tiết kiệm được chi phí phải sơn lại cũng như giảm chất thải ra môi trường.

Khái niệm
Sơn là một hỗn hợp gồm bột màu và nhựa có hoặc không có dung môi, được điều chỉnh phụ gia thích hợp. Khi gia công trên một bề mặt trong điều kiện môi trường thích hợp thì tạo thành một lớp màng liên tục, khô và bám dính trên bề mặt đó.

Phân loại
– Sơn nước;
– Sơn dung môi;
– Sơn bột;
– Sơn đóng rắn bức xạ/ UV.

Thành phần
– Chất tạo màng (nhựa hoặc dung dịch nhựa);
– Bột màu (tạo màu, độ phủ) và bột độn;
– Dung môi (nước hoặc dung môi hữu cơ) ;
– Phụ gia.

Chức năng (cơ bản nhất)
– Trang trí;
– Bảo vệ.

Ứng dụng
– Xây dựng dân dụng;
– Tầu, thuyền;
– Công trình dầu khí, năng lượng, giao thông;
– Đồ gỗ và thủ công mỹ nghệ;
– Đồ dùng điện tử;
– Bao bì, đồ hộp;
– Và rất nhiều những lĩnh vực khác…

Vài nét về ngành công nghiệp sơn Việt Nam

Sản phẩm và thị trường
Sản xuất sơn và chất phủ tại Việt Nam năm 2017 đạt sản lượng 572 triệu lít với giá trị 1,934 triệu đô la Mỹ, cơ cấu phân loại theo các lĩnh vực sử dụng như sau :
– Sơn trang trí
– Sơn bảo vệ
– Sơn tầu biển
– Sơn gỗ
– Sơn tấm lợp
– Sơn bột
– Các loại sơn khác ( sơn xe hơi, gắn máy, kẻ đường, sơn sàn …)

Cơ cấu ngành sơn Việt Nam theo sản lượng

Cơ cấu ngành sơn Việt Nam theo gía trị

Vài nét về ngành công nghiệp mực in Việt nam

Sản phẩm và thị trường
Ngành sản xuất mực in Việt Nam năm 2017 đạt sản lượng 33,188 tấn với giá trị 91.84 triệu đô la Mỹ. Cơ cấu phân loại như sau :
– Mực in Offset
– Mực in gốc dung môi
– Mực in gốc nước
– Mực in ngoài
– Mực in ghép màng
– Mực in UV

Cơ Cấu ngành Mực in Việt Nam theo sản lượng

Cơ Cấu ngành Mực in Việt Nam theo giá trị

ĐẶC ĐIỂM LỊCH SỬ NGÀNH SƠN VIỆT NAM

1. Giới thiệu chung [1,2,3]
Sơn (hoặc có thể gọi là chất phủ bề mặt) được dùng để trang trí mỹ thuật hoặc bảo vệ các bề mặt vật liệu cần sơn.

Sơn đã được loài người cổ xưa chế biến từ các vật liệu thiên nhiên sẵn có để tạo các bức tranh trên nền đá ở nhiều hang động nhằm ghi lại hình ảnh sinh hoạt cuộc sống thường ngày mà ngành khảo cổ học thế giới đã xác định được niên đại cách đây khoảng 25.000 năm.

Ai Cập đã biết chế tạo sơn mỹ thuật từ năm 3000 – 600 trước công nguyên
Hy Lạp và La Mã đã chế tạo sơn dầu béo vừa cò tác dụng trang trí vừa có tính chất bảo vệ các bề mặt cần sơn trong thời kỳ năm 600 trước công nguyên đến năm 400 sau công nguyên và mãi đến thế kỷ 13 sau công nguyên các nước khác của Châu Âu mới biết đến công nghệ sơn này và đến cuối thế kỷ 18 mới bắt đầu có các nhà sản xuất sơn chuyên nghiệp do yêu cầu về sơn tăng mạnh.

Cuộc cách mạng kỹ thuật của thế giới đã tác động thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp sơn từ thế kỷ 18 nhưng chất lượng sơn bảo vệ và trang trí vẫn chưa cao vì nguyên liệu chế tạo sơn đi từ các loại dầu nhựa thiên nhiên và các loại bột màu vô cơ có chất lượng thấp

Ngành công nghiệp sơn chỉ có thể phát triển nhảy vọt khi xuất hiện trên thị trường các loại nhựa tổng hợp tạo màng sơn cùng với các loại bột màu hữu cơ chất lượng cao và nhất là sự xuất hiện của sản phẩm bột màu trắng đioxit titan (TiO2) là loại bột màu chủ đạo, phản ánh sự phát triển của công nghiệp sơn màu

Các mốc phát triển công nghiệp sơn (được khởi đầu từ thế kỷ 20 đến cuối thế kỷ 20) có thể được phản ánh như sau:
– Năm 1923: nhựa Nitrocellulose, alkyd
– Năm 1924: Bột màu TiO2
– Năm 1928: Nhựa Phenol tan trong dầu béo
– Năm 1930: Nhựa Amino Urea Formaldehyde
– Năm 1933: Nhựa Vinyl Clorua đồng trùng hợp
– Năm 1934: Nhựa nhũ tương trong gốc dầu
– Năm 1936: Nhựa Acrylic nhiệt rắn
– Năm 1937: Nhựa Polyurethan
– Năm 1939: Nhựa Amino melamin Formaldehyde
– Năm 1944: Sơn gốc Silicone
– Năm 1947: Nhựa Epoxy
– Năm 1950: Nhựa PVA và Acrylic laquer
– Năm 1955: Sơn bột tĩnh điện
– Năm 1958: Sơn xe hơi gốc Acrylic laquer
Sơn nhà gốc nhựa latex
– Năm 1960: Sơn công nghiệp gốc nước
– Năm 1962: Sơn điện di kiểu Anode
– Năm 1963: Sơn đóng rắn bằng tia EB và UV
– Năm 1971: Sơn điện di kiểu catode

Trong tương lai, thách thức của ngành công nghiệp sơn toàn cầu phải giải quyết bài toán quen thuộc là tìm được giải pháp cân bằng giữa một bên là sức ép về chi phí của năng lượng, nguyên liệu và đáp ứng quy định luật an toàn môi trường của chính phủ với một bên là yêu cầu của thị trường là chất sơn phải hoàn hảo với giá cả tốt nhất. Các thách thức này sẽ tạo ra nhiều cơ hội cho ngành sơn công nghiệp thế giới nghiên cứu và triển khai các giải pháp công nghệ mới, nguyên liệu mới và sản phẩm mới đó chắc chắn cũng là tác động tích cực đối với sự phát triển hơn nữa của ngành công nghiệp này

Ở Việt Nam, cha ông ta từ gần 400 năm trước đã biết dùng sơn ta từ cây sơn mọc tự nhiên chế biến thành sơn trang trí và bảo vệ cho chất lượng gỗ của các pho tượng thờ, các tấm hoành phi câu đối “sơn son thiếp vàng”, lớp sơn bảo vệ này chất lượng hầu như không thay đổi sau hàng trăm năm sử dụng, sơn ta đến nay vẫn được coi là nguyên liệu chất lượng cao dùng cho ngành tranh sơn mài được ưa chuộng cả trong và ngoài nước hoặc một số loại dầu béo như: dầu chẩu và dầu lai hoặc nhựa thông từ cây thông ba lá mọc tự nhiên tại Việt Nam, từ lâu đã được người dân chế biến thành dầu bóng (clear – varnish) gọi nôm na là “quang dầu” dùng trang trí và bảo vệ cho “nón lá” hoặc “đồ gỗ”, nội ngoại thất.

Tuy nhiên, việc sử dụng sơn nói trên chỉ mang tính chất tự phát từ nhu cầu đời sống thường ngày, đến năm 1913 – 1914 ở Việt Nam mới xuất hiện một xưởng sơn dầu ở Hải Phòng do người Pháp mở mang nhãn hiệu TESTUDO , tiếp sau đó vài năm hãng sơn Việt Nam đầu tiên “Công ty sơn Nguyễn Sơn Hà” được thành lập và tiếp theo có các hãng sơn ở Hà Nội là Thăng Long, Gecko. Trong đó cần chú ý là loại sơn RESISTANCO của hãng sơn Nguyễn Sơn Hà rất được người tiêu dùng trong và ngoài nước ưa chuộng, đây có thể nói là hãng sơn đầu tiên lớn nhất tại Việt Nam lúc ấy và còn để lại giấu ấn lịch sử tới ngày nay là Công ty cổ phần sơn Hải Phòng phát triển từ mảnh đất mang tên Xí nghiệp sơn Phú Hà (hậu duệ sau này của ông Nguyễn Sơn Hà). Vì vậy có thể nói rằng: ông Nguyễn Sơn Hà chính là ông tổ ngành sơn Việt Nam

2. Lịch sử phát triển ngành sơn Việt Nam
Ngành công nghiệp sơn Việt Nam có thể lấy điểm khởi đầu phát triển là năm 1914 -1920 với sự xuất hiện của một số xưởng sơn dầu tại Việt Nam, trong đó nổi bật nhất là công ty sơn của ông Nguyễn Sơn Hà – ông tổ ngành sơn Việt Nam.

Tuy nhiên do bối cảnh lịch sử xã hội Việt Nam mãi đến năm 1975 mới thực sự là một quốc gia độc lập và thống nhất lãnh thổ và có đầy đủ điều kiện phát triển kinh tế xã hội và từng bước phát triển ngành sơn Việt Nam có thể chia thành các giai đoạn sau:

2.1. Giai đoạn 1914 – 1954: có 3 hãng sơn lớn của người Việt Nam tại 3 khu vực thành phố lớn là:

• Hà Nội: Công ty sơn Thái Bình – Cầu Diễn, Hà Nội (sau này Công ty Hóa chất sơn Hà Nội và hiện nay là Công ty cổ phần Hóa chất Sơn Hà Nội)

• Hải Phòng: Công ty Sơn Nguyễn Sơn Hà – sau này đổi tên là Công ty Sơn Phú Hà (hậu duệ của ông Nguyễn Sơn Hà) và hiện nay là Công ty cổ phần sơn Hải Phòng.

• Sài Gòn (sau này là Thành phố Hồ Chí Minh): Công ty sơn Bạch Tuyết do ông Bùi Duy Cận (một cộng tác viên của ông Nguyễn Sơn Hà) vào Nam sáng lập, hiện nay là Công ty cồ phần sơn Bạch Tuyết.

Giai đoạn này, sản phẩm chủ yếu là sơn dầu, sơn alkyd gốc dung môi với công nghệ đơn giản, chất lượng sơn không cao chủ yếu phục vụ cho yêu cầu sơn trang trí xây dựng, các loại sơn công nghiệp chất lượng cao đều nhập khẩu.

Ngoài ra trong vùng tự do thời kháng chiến chống Pháp cũng có cơ sở sản xuất sơn của Việt Nam nhưng sản phẩm chủ yếu là sơn dầu từ nguyên liệu thiên nhiên sẵn có ở Việt Nam như: nhựa thông, dầu chẩu…

2.2. Giai đoạn 1954 – 1975: Bối cảnh lịch sử đất nước tạm thời chia cắt 2 miền Bắc – Nam với chế độ chính trị khác nhau và do đó điều kiện phát triển kinh tế (trong đó bao gồm cả phát triển ngành sơn) khác nhau, cụ thể là:

a – Miền Bắc: có 3 nhà máy sơn Nhà nước quy mô sản xuất công nghiệp là:
– Nhà máy Sơn Tổng Hợp Hà Nội (mới thành lập) do Tổng cục hóa chất quản lý
– Nhà máy Hóa chất Sơn Hà Nội (trước đây là Công ty Sơn Thái Bình – Cầu Diễn) do sở công nghiệp Hà Nội quản lý.
– Nhà máy Sơn Hải Phòng (trước đây là xí nghiệp sơn Phú Hà) do Sở Công nghiệp Hải Phòng quản lý.

Sản phẩm chính là sơn dầu nhựa thiên nhiên trong nước sơn Alkyd (nhập cảng nguyên liệu nhựa alkyd) ứng dụng chủ yếu cho công nghiệp dân dụng và trang trí, chất lượng chưa cao, công nghệ lạc hậu, số lượng sản xuất còn thấp không đáp ứng đủ yêu cầu (do hạn chế nhập khẩu nguyên liệu vì nguồn ngoại tệ không đủ đáp ứng)

b- Miền Nam: Có 16 hãng sơn lớn nhỏ sản xuất đủ các loại sơn tổng sản lượng # 7.000 tấn/năm (theo số liệu của Tổng Cục Hóa Chất – 28/4/1976)

Các nguyên liệu sản xuất phần lớn đều nhập khẩu có chất lượng cao, công nghệ hiện đại theo thời điểm 1960, có thể kể các nhà máy lớn và các sản phẩm tiêu biểu:

– Nhà máy sơn Bạch Tuyết và Huệ Phát (nay là Công ty sơn Bạch Tuyết): sản phẩm chủ yếu là sơn alkyd dùng cho ngành xây dựng và 1 lượng không lớn sơn Epoxy.
– Nhà máy sơn Á Đông, Á Châu, Việt Điểu, Vĩnh Phát: Sau năm 1975, các nhà máy này có công ty sơn chất dẻo Tổng cục Hóa chất quản lý sát nhập lại gọi là Xí nghiệp sơn Á Đông và hiện nay là Công ty cổ phần Sơn Á Đông, sản phẩm chủ yếu là sơn dầu, sơn alkyd và sơn nước cho ngành sơn trang trí xây dựng.

Một số nhà máy sơn khác chuyên sản xuất các loại sơn công nghiệp chất lượng cao là sơn gỗ khô nhanh gốc N/C (nitrocellose), sơn tân trang xe hơi, sơn tàu biển…trong các hãng sơn này còn một hãng sơn tuy nhỏ nhưng vẫn còn tồn tại đến nay là Công ty sơn Tứ Tượng, còn lại từ sau 1980 các hãng sơn nhỏ có tiếng tăm về sơn như: Laphale`ne, Durico, Tân Chánh Hưng đều giải thể.

2.3. Giai đoạn 1976 – 1989
Đặc điểm phát triển của ngành sơn giai đoạn này mang dấu ấn khó khăn chung của nền kinh tế sau chiến tranh thống nhất đất nước. Đó là thời kỳ kinh tế bao cấp, mặc dầu đến năm 1986 nền kinh tế đã bắt đầu khởi động phát triển với mức đột phá “đổi mới” nhưng ngành công nghiệp sơn vẫn còn phát triển trì trệ mãi đến năm 1989.

• Sản phẩm sơn tiêu thụ trong nước chỉ có sơn dầu, hoàn toàn không có sơn nước, nhà cửa và công trình xây dựng chỉ được trang trí bằng quét nước vôi màu.
• Các loại sơn nhựa tổng hợp có chất lượng cao và tốt dùng cho ngành công nghiệp gốc Alkyd, Epoxy…chỉ được sản xuất số lượng ít theo hạn mức ngoại tệ nhập khẩu nguyên liệu.
• Các loại sơn gốc dầu nhựa thiên nhiên có chất lượng thấp được sản xuất với số lượng nhiều hơn sơn nhựa tổng hợp vì nguồn cung cấp nhựa tạo màng có sẵn trong nước khá dối dào và rẻ tiền như: nhựa thông, chai cục.Tuy nhiên sản lượng sơn sản xuất ra cũng bị hạn chế vì không đủ đáp ứng số nguyên liệu quan trọng khác của ngành sơn như dung môi, bột màu…cần nhập khẩu bằng ngoại tệ.

Tóm lại đặc điểm phát triển của công nghiệp sơn trong giai đoạn này là:
– Tổng sản lượng sơn chỉ đạt mức dưới 10.000 tấn/năm cung không đủ cầu, những loại sơn có chất lượng tốt đều phân phối theo chỉ tiêu và giá bao cấp do Nhà nước quản lý, những loại sơn có chất lượng không cao (kiểu sơn dầu) cũng được phân phối “nới” rộng hơn, nhưng nghiêng về cơ chế hành chính “xin và cho” với cả nhà sản xuất và người tiêu dùng từ cơ quan quản lý và phân phối của Nhà nước.
– Số lượng công ty, xí nghiệp sản xuất sơn đều thuộc quyền sở hữu Nhà nước: Ở miền Bắc vẫn có 3 công ty sơn (2 ở Hà Nội và 1 ở Hải Phòng) như giai đoạn 1954 – 1975, có thêm 1 xưởng nhỏ sản xuất sơn của hải quân; Ở miền Trung có một xí nghiệp sơn nhỏ của Công ty kỹ thuật hóa chất Đà Nẵng thuộc Tổng Cục Hóa Chất; Ở miền Nam có một Công ty sơn Đồng Nai (cải tạo từ hãng sơn tư nhân Hồng Phát lập từ đầu năm 1975 chưa kịp sản xuất) do Sở công nghiệp Đồng Nai sở hữu.

+ Bốn xí nghiệp sơn lớn thuộc sở hữu Nhà nước là Công ty Sơn chất dẻo: Á Đông, Vĩnh Phát, Việt Điểu (sau này sát nhập lại lấy tên chung là Nhà máy sơn Á Đông)
+ Một xí nghiệp sơn lớn và có thương hiệu uy tín nhất Sài Gòn và Tp. Hồ Chí Minh sau này là Bạch Tuyết thuộc sở hữu Sở Công Nghiệp Tp.Hồ Chí Minh
+ Xí nghiệp sơn nhỏ của Công ty kỹ thuật hóa chất Tp. Hồ Chí Minh thuộc Tổng Cục Hóa Chất (mang tên Nam Sơn từ trước năm 1975 sau 1990 là thương hiệu “Liksho”)

Tổng cộng giai đoạn 1976 -1990 toàn quốc có 12 công ty – xí nghiệp sản xuất sơn lớn nhỏ thuộc sở hữu nhà nước. Các nhà máy có công suất lớn chỉ sản xuất cầm chừng do không đủ nguyên liệu (phụ thuộc nhập khẩu phần lớn gia công cho Bộ vật tư nhà nước theo chất lượng cam kết, theo phần nguyên liệu được phân phối, sản phẩm giao cho người tiêu dùng theo lệnh phân phối của Bộ vật tư. Trong khi đó với sự nhạy cảm của một số người “khéo xoay sở “ trong thị trường sơn lúc này hàng loạt tổ hợp và cơ sở tư nhân sản xuất sơn ra đời đáp ứng hầu như tất cả các loại sơn dầu chất lượng thấp cho người tiêu dùng, và đáp lại người tiêu dùng sẵn sàng mua để “xài”, bất chấp chất lượng tới đâu vì khi sơn xong phải mất 3 -6 tháng sau mới biết rõ tốt xấu.

Tình hình này nếu còn kéo dài thêm ít năm nữa chắc ngành công nghiệp sơn Việt Nam sẽ bị tụt dốc nghiêm trọng về chất lượng sản phẩm – công nghệ, số lượng nhà sản xuất sơn có uy tín ở thị trường và v.v.. rất may tình hình xấu đi chỉ trong thời gian ngắn 1982 – 1986. Từ 1986 với chính sách “đổi mới” toàn bộ cơ cấu kinh tế và xã hội, Việt Nam đã có những cải cách quan trọng về phát triển kinh tế, ngành sơn Việt Nam đã thực sự chuyển mình phát triển mới từ giai đoạn 1990

2.4. Giai đoạn 1990 – 2008 [4,5,6]
Năm 1986, kinh tế Việt Nam bắt đầu bước vào thời kỳ “đổi mới” với đặc tính của nền kinh tế thị trường, nhưng sự chuyển biến tích cực của nền kinh tế thị trường, nhưng sự chuyển biến tích cực của ngành sơn chỉ bắt đầu khởi đầu từ năm 1990 để bước vào quá trình hội nhập phát triển với khu vực quốc tế và dần dần ổn định phát triển liên tục tới nay (2008)

Có thể tóm tắt đặc điểm lịch sử phát triển của ngành sơn Việt Nam trong giai đoạn 1990 – 2008 như sau:

a- Quá trình hội nhập (1990 – 1993)
Mức tiêu thụ (chủ yếu sơn trang trí) trung bình # 10.000 tấn/ năm. Sản phẩm chủ yếu do trong nước sản xuất: sơn dầu alkyd chất lượng sản phẩm và công nghệ: không cao, không đáp ứng được yêu cầu về số lượng – chất lượng và chủng loại sơn (nhất là sơn trang trí gốc nước và sơn công nghiệp)

Xuất hiện thương hiệu của các hãng sơn có tên tuổi trong khu vực và quốc tế như: ICI, Nippon, Akzonobel, Jotun, Interpaint, Toa Thái Lan, Uraiphanich…

Các thương hiệu Việt Nam: do 9 công ty và xí nghiệp sơn có trong giai đoạn 1976 – 1986 (trong đó giảm đi 3 xí nghiệp sơn của công ty sơn chất dẻo giải thể và sát nhập vào sơn Á Đông)

b- Bước đột phá về đầu tư (1993 – 1997)
Thuận lợi:
– GDP trung bình tăng trưởng 8,8%/ năm
– Ngành xây dựng tốc độ gia tăng mạnh là các yếu tố tích cực cho ngành sơn phát triển.
Mức tiêu thụ: tăng vọt qua các năm:

  • 10.000 tấn – 1993
  • 25.000 tấn – 1996
  • 40.000 tấn – 1997

– Sơn trang trí chiếm tỉ lệ: 80% mức tiêu thụ
– Sơn tàu biển và bảo vệ chiếm tỉ lệ 20% mức tiêu thụ

Mức độ đầu tư nước ngoài về sơn đạt mức khoảng 90 triệu USD: có 20 công ty sơn nước ngoài lập nhà máy liên doanh với Việt Nam hoặc 100% vốn nước ngoài, đặc biệt là các công ty có tên tuổi lớn về sơn quốc tế đã nói trên đều có mặt.

Mức độ đầu tư của các nhà làm sơn trong nước: cũng đạt mức đáng khích lệ, ngoài các đơn vị Việt Nam bỏ vốn theo tỉ lệ liên doanh với các công ty sơn nước ngoài, các doanh nghiệp Việt Nam cũng đầu tư số vốn khoảng 5 triệu USD để lập nhà máy mới mở rộng xưởng sản xuất, lắp đặt trang thiết bị mới, sản xuất sản phẩm mới (nhiều nhất là sơn nước), mua công nghệ nước ngoài (ví dụ sơn tàu biển và bảo vệ)

Kết quả với dòng đầu tư đột phá này từ nước ngoài kéo theo sự chuyển đổi mạnh mẽ của đầu tư trong nước, chất lượng công nghệ sơn tại Việt Nam đã được “thay da đổi thịt” và tạo ra các dòng sản phẩm có chất lượng theo yêu cầu thị trường. Từ đó làm cơ sở hết sức quan trọng cho bước phát triển nhảy vọt và ổn định cho các năm kế tiếp nhất là từ năm 2000 về sau.

c- Quá trình phát triển ổn định trước thách thức (1997 – 1999)
– Thách thức phát triển kinh tế Việt Nam: khủng hoảng tài chính khu vực Đông Nam Á (1997 – 1999) Việt Nam tuy ít chịu ảnh hưởng nhưng cũng tăng trưởng chậm lại qua các chỉ tiêu phát triển kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn này là:
– Mức tăng GDP: (Năm   1996: 9,34%)
1997: 8,15%
1998: 5,76%
1999: 4,77%
(Năm 2000: 6,8%)
– Vốn FDI (đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam)

(Năm 1996: vốn FDI đăng ký   : 10,164 tỉ USD)
1997  : 5,591
1998 : 5,100
1999 : 2,565
(Năm 2000 : 2,839)
(Nguồn số liệu: Niên giám của Tổng cục Thống kê Việt Nam)
– Trong bối cảnh đó ngành sơn Việt Nam vẫn đạt tốc độ phát triển 15  – 20% năm và đến hết năm 1999, ngành sơn Việt Nam đã hồi phục sức phát triển với tốc độ cao bắt đầu từ năm 2000 và các năm kế tiếp.

d- Quá trình phát triển với tốc độ cao 2000 – 2007
– Bối cảnh lịch sử: Các nước Đông Nam Á đã vượt qua giai đoạn khủng hoảng tài chính và nền kinh tế bắt đầu hồi phục và phát triển ổn định. Kinh tế Việt Nam ít bị ảnh hưởng của khủng hoảng này, tuy có tăng trưởng chậm lại nhưng rất ổn định và ngày càng phát triển mạnh hơn – thể hiện qua các chỉ tiêu phát triển kinh tế sau đây:

• Mức tăng GDP/năm: Năm 2000: 6,8%
2001: 6,9%
2002: 7,08%
2003: 7,34%
2004: 7,79%
2005: 8,44%
2006: 8,23%
2007: 8.48%

• Vốn FDI

Năm 2000: đăng ký: 2,839 tỉ USD/ Thực hiện: 2,44 tỉ USD
Năm 2001:  ‘ 3,143  ‘ 2,450
Năm 2002:  ‘ 2,999  ‘ 2,591
Năm 2003:  ‘ 3,191  ‘ 2,650
Năm 2004:  ‘ 4,548  ‘ 2,853
Năm 2005:  ‘ 6,840  ‘ 3,309
Năm 2006:  ‘ 12,004  ‘ 4,100
Năm 2007:  ‘ 21,348  ‘ 8,030

   (Nguồn số liệu: Niên giám của Tổng cục Thống kê Việt Nam)

BẢNG TỔNG HỢP MỨC TĂNG TRƯỞNG CỦA THỊ TRƯỜNG SƠN VIỆT NAM
(1995 – 2008)

SỐ THỨ TỰ
LOẠI SƠN
MỨC TIÊU THỤ NĂM
 
 
1995
(Tấn )
(*)

2000 (Tấn)

(*)
2002
(Tấn)
(*)
2004 (Tấn)
(**)

2006
(Triệu lít)

(***)
2007
(Triệu lít)
(***)
2008
(Triệu lít) (***)
1
Sơn ttrang trí:
– Gốc nước
– Gốc dung môi
23.800
58.000
77.200
96.000
123,20
152,00
158,00
11.000
40.000
57.000
74.000
12.800
18.000
20.200
22.000
2
Sơn tàu biển và bảo vệ
1.000
4.000
8.000
12.500
13,60
16,80
19,70
3
Sơn công nghiệp:
– Sơn đồ gỗ
– Sơn bột
– Sơn coil (tấm lợp)
0,200
2.850
6.010
18.200
0,200
2.000
3.000
12.000
37,05
43,70
40,20
0
0
1.810
3.500
6,80
8,00
8,20
0
0,850
1.200
2.700
3,70
8,70
8,00
4
Sơn khác:
– Sơn can
– Sơn ôtô tân trang
– Sơn plastic
– Sơn sàn
– Sơn kẻ tường
0,500
3.040
5.780
13.800
3,50
6,70
6,90
200
240
500
050
080
100
790
2.950
2.800
7.000
TỔNG CỘNG
25.500
67.890
96.990
140.500
187,85
236,00
241,00

Nguồn số liệu:
(*)     Diễn đàn sơn châu Á – ACF – Tp.HCM 2003
(**)   Hội nghị thị trường sơn Châu Á – ACM – Singapore 2005
(***) VPIA – Hội thảo sơn Châu Á – ACC- Tp.HCM 2007 và 2009

Tác giả: Nguyễn Huy Tòng

TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Surface coatings
NXB – TAFE Education Books
Vol 1, 1983 – Australia
[2] Paint and surface coatings
NXB – Ellis hofwood limited 1987, England
[3] Kỹ thuật sơn – Đinh Văn Kiên
NXB – Thanh niên 1999, Việt Nam
[4] Toàn cảnh ngành sơn và mực in Việt Nam
Báo cáo tại ngày hội hóa học Tp.HCM 2005 của VPIA
[5] Overview of Vietnam Coatings market – VPIA ACC HCM 2007, 2009
[6] Vietnam Coatings & ink market
Speaker: Vương Bắc Đẩu – ACF 2003, HCMC

Tin tức - Sự kiện

Load More

Triển lãm - Hội thảo

Load More

Công nghệ Sơn - Mực In

Load More

DANH SÁCH UỶ VIÊN BAN CHẤP HÀNH HIỆP HỘI SƠN – MỰC IN VIỆT NAM

NHIỆM KỲ III (2018 – 2023)

 

1

Nguyễn Thị Lạc Huyền

Ủy viên Ban Chấp hành

2

Nguyễn Văn Thành

Ủy viên Ban Chấp hành

3

Vương Bắc Đẩu

Ủy viên Ban Chấp hành

4

Tạ Đình Doan

Ủy viên Ban Chấp hành

5

Phạm Thị Hoài Thinh

Ủy viên Ban Chấp hành

6

Trần Thị Thanh Thanh

Ủy viên Ban Chấp hành

7

Phạm Đình Tường

Ủy viên Ban Chấp hành

8

Nguyễn Xuân Hoà

Ủy viên Ban Chấp hành

9

Nguyễn Quốc Dũng

Ủy viên Ban Chấp hành

10

Đậu Khánh Phương

Ủy viên Ban Chấp hành

11

Dương Thị Thùy Dương

Ủy viên Ban Chấp hành

12

Từ Quốc Dũng

Ủy viên Ban Chấp hành

BỘ NỘI VỤ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

ĐIỀU LỆ (SỬA ĐỔI, BỔ SUNG)HIỆP HỘI SƠN – MỰC IN VIỆT NAM
(Phê duyệt kèm theo Quyết định số 1205/QĐ-BNV
Ngày 08 tháng 11 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ)

Chương I
QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Tên gọi, biểu tượng
1. Tên tiếng Việt: Hiệp hội Sơn – Mực in Việt Nam.
2. Tên tiếng Anh: Vietnam Paint and Printing Ink Association.
3. Tên viết tắt tiếng Anh: VPIA.
4. Hiệp hội có biểu tượng riêng, được đăng ký bản quyền theo quy định của pháp luật.
Điều 2. Tôn chỉ, mục đích
Hiệp hội Sơn – Mực in Việt Nam là tổ chức xã hội – nghề nghiệp của các tổ chức, công dân Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực sơn – mực in theo quy định của pháp luật Việt Nam, tự nguyện thành lập, nhằm mục đích tập hợp, đoàn kết hội viên, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội viên, hỗ trợ nhau hoạt động có hiệu quả, góp phần phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.
Điều 3. Địa vị pháp lý, trụ sở
1. Hiệp hội có tư cách pháp nhân, con dấu, tài khoản riêng; hoạt động theo quy định pháp luật Việt Nam và Điều lệ Hiệp hội được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
2. Trụ sở của Hiệp hội đặt tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Điều 4. Phạm vi, lĩnh vực hoạt động
1. Hiệp hội hoạt động trên phạm vi cả nước trong lĩnh vực sơn – mực in theo quy định của pháp luật Việt Nam.
2. Hiệp hội chịu sự quản lý nhà nước của Bộ Công Thương và các bộ, ngành có liên quan đến lĩnh vực hoạt động của Hiệp hội theo quy định của pháp luật.
Điều 5. Nguyên tắc tổ chức, hoạt động
1. Tự nguyện, tự quản.
2. Dân chủ, bình đẳng, công khai, minh bạch.
3. Tự đảm bảo kinh phí hoạt động.
4. Không vì mục đích lợi nhuận.
5. Tuân thủ Hiến pháp, pháp luật và Điều lệ Hiệp hội.

Chương II

QUYỀN HẠN, NHIỆM VỤ

 Điều 6. Quyền hạn

  1. Tuyên truyền tôn chỉ, mục đích hoạt động của Hiệp hội.
  2. Đại diện cho hội viên trong mối quan hệ đối nội, đối ngoại có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của Hiệp hội theo quy định của pháp luật.
  3. Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của hội viên phù hợp với tôn chỉ, mục đích của Hiệp hội theo quy định của pháp luật.
  4. Tham gia chương trình, dự án, đề tài nghiên cứu, tư vấn, phản biện và giám định xã hội theo đề nghị của cơ quan nhà nước; cung cấp dịch vụ công về các vấn đề thuộc lĩnh vực hoạt động của Hiệp hội, tổ chức dạy nghề, truyền nghề theo quy định của pháp luật.
  5. Tham gia ý kiến vào các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến nội dung hoạt động của Hiệp hội theo quy định của pháp luật. Kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với các vấn đề liên quan đến sự phát triển của Hiệp hội và lĩnh vực Hiệp hội hoạt động. Được tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức các dịch vụ theo quy định của pháp luật và được cấp chứng chỉ hành nghề khi có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật.
  6. Phối hợp với cơ quan, tổ chức có liên quan để thực hiện nhiệm vụ của Hiệp hội.
  7. Thành lập pháp nhân thuộc Hiệp hội theo quy định của pháp luật.
  8. Được gây quỹ Hiệp hội trên cơ sở hội phí của hội viên và các nguồn thu từ hoạt động kinh doanh, dịch vụ theo quy định của pháp luật để tự trang trải kinh phí hoạt động.
  9. Được nhận các nguồn tài trợ hợp pháp của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật.
  10. Được gia nhập các tổ chức quốc tế tương ứng và ký kết, thực hiện thỏa thuận quốc tế theo quy định của pháp luật và báo cáo cơ quan quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực Hiệp hội hoạt động, cơ quan quyết định cho phép thành lập Hiệp hội về việc gia nhập tổ chức quốc tế tương ứng, ký kết, thực hiện thỏa thuận quốc tế.

Điều 7. Nhiệm vụ

  1. Chấp hành các quy định của pháp luật có liên quan đến tổ chức, hoạt động của Hiệp hội. Tổ chức, hoạt động theo Điều lệ Hiệp hội đã được phê duyệt và phù hợp với pháp luật. Không được lợi dụng hoạt động của Hiệp hội để làm phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự xã hội, thuần phong mỹ tục, truyền thống của dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức.
  2. Tập hợp, đoàn kết hội viên; tổ chức, phối hợp hoạt động giữa các hội viên vì lợi ích chung của Hiệp hội; thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích của Hiệp hội nhằm tham gia phát triển lĩnh vực liên quan đến hoạt động của Hiệp hội, góp phần xây dựng và phát triển đất nước.
  3. Phổ biến, bồi dưỡng kiến thức cho hội viên, hướng dẫn hội viên tuân thủ pháp luật, chế độ, chính sách của Nhà nước và Điều lệ, quy chế, quy định của Hiệp hội.
  4. Đại diện hội viên tham gia, kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền về các chủ trương, chính sách liên quan đến lĩnh vực hoạt động của Hiệp hội theo quy định của pháp luật.
  5. Hòa giải tranh chấp, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong nội bộ Hiệp hội theo quy định của pháp luật.
  6. Xây dựng và ban hành quy tắc đạo đức trong hoạt động của Hiệp hội.
  7. Quản lý và sử dụng các nguồn kinh phí của Hiệp hội theo đúng quy định của pháp luật.
  8. Thực hiện các nhiệm vụ khác khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu.

 

Chương III

HỘI VIÊN

 Điều 8. Hội viên, tiêu chuẩn hội viên

  1. Hội viên của Hiệp hội gồm hội viên chính thức, hội viên liên kết và hội viên danh dự:
  2. a) Hội viên chính thức: Công dân, tổ chức Việt Nam hoạt động trong lĩnh sơn – mực in theo quy định của pháp luật Việt Nam, có đủ tiêu chuẩn theo quy định tại Khoản 2 Điều này, tán thành Điều lệ Hiệp hội, tự nguyện gia nhập Hiệp hội, có thể trở thành hội viên chính thức của Hiệp hội;
  3. b) Hội viên liên kết: Các doanh nghiệp, tổ chức của Việt Nam chưa có đủ điều kiện là hội viên chính thức của Hiệp hội, có nguyện vọng, tự nguyện và tán thành Điều lệ của Hiệp hội, được Hiệp hội xem xét công nhận là hội viên liên kết của Hiệp hội;
  4. c) Hội viên danh dự: Công dân, tổ chức của Việt Nam không có đủ điều kiện trở thành hội viên chính thức hoặc hội viên liên kết của Hiệp hội nhưng có uy tín, có kinh nghiệm và có công lao đối với sự phát triển của Hiệp hội, tán thành Điều lệ Hiệp hội được Ban Chấp hành Hiệp hội nhất trí mời làm hội viên danh dự của Hiệp hội.
  5. Tiêu chuẩn hội viên chính thức:
  6. a) Hoạt động trong lĩnh vực sơn – mực in hoặc có liên quan đến lĩnh vực sơn – mực in theo quy định của pháp luật Việt Nam;
  7. b) Tán thành Điều lệ Hiệp hội;
  8. c) Tự nguyện viết đơn xin gia nhập Hiệp hội;
  9. d) Đóng hội phí đầy đủ, đúng kỳ hạn theo quy định của Hiệp hội;

đ) Được Ban Thường vụ Hiệp hội công nhận là hội viên của Hiệp hội theo quy định của pháp luật và Điều lệ Hiệp hội;

  1. e) Các đơn vị, tổ chức pháp nhân hoặc các cá nhân chỉ chính thức trở thành hội viên của Hiệp hội sau khi đã hoàn thành thủ tục đóng hội phí gia nhập Hiệp hội và nhận được thẻ hội viên của Hiệp hội;
  2. g) Hội viên là pháp nhân (tổ chức có tư cách pháp nhân theo quy định của pháp luật) cử người đại diện của mình tại Hiệp hội, người đại diện phải có đủ thẩm quyền quyết định những vấn đề liên quan đến trách nhiệm của hội viên trong hoạt động của Hiệp hội, trường hợp ủy nhiệm, người được ủy nhiệm phải có đủ thẩm quyền quyết định và phải chịu trách nhiệm về sự ủy nhiệm đó, khi thay đổi người đại diện, hội viên phải thông báo bằng văn bản cho Ban Thường vụ Hiệp hội, chậm nhất không quá 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày có sự thay đổi.

Điều 9. Quyền của hội viên

  1. Được Hiệp hội bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp theo quy định của pháp luật.
  2. Được Hiệp hội cung cấp thông tin liên quan đến lĩnh vực hoạt động của Hiệp hội, được tham gia các hoạt động do Hiệp hội tổ chức.
  3. Được tham gia thảo luận, quyết định các chủ trương công tác của Hiệp hội theo quy định của Hiệp hội; được kiến nghị, đề xuất ý kiến với cơ quan có thẩm quyền về những vấn đề có liên quan đến lĩnh vực hoạt động của Hiệp hội theo quy định của pháp luật.
  4. Được dự Đại hội, ứng cử, đề cử, bầu cử các cơ quan, các chức danh lãnh đạo và Ban Kiểm tra Hiệp hội theo quy định của Hiệp hội.
  5. Được giới thiệu hội viên mới.
  6. Được Hiệp hội khen thưởng theo quy định của Hiệp hội.
  7. Được cấp thẻ hội viên.
  8. Được ra khỏi Hiệp hội khi xét thấy không thể tiếp tục là hội viên.
  9. Hội viên liên kết, hội viên danh dự được hưởng các quyền như hội viên chính thức, trừ quyền biểu quyết các vấn đề của Hiệp hội và quyền ứng cử, đề cử, bầu cử Ban Lãnh đạo, Ban Kiểm tra Hiệp hội.

Điều 10. Nghĩa vụ của hội viên

  1. Nghiêm chỉnh chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; chấp hành Điều lệ, quy định của Hiệp hội.
  2. Tham gia các hoạt động và sinh hoạt của Hiệp hội; đoàn kết, hợp tác với các hội viên khác để xây dựng Hiệp hội phát triển vững mạnh.
  3. Bảo vệ uy tín của Hiệp hội, không được nhân danh Hiệp hội trong các quan hệ giao dịch, trừ khi được lãnh đạo Hiệp hội phân công bằng văn bản.
  4. Thực hiện chế độ thông tin, báo cáo theo quy định của Hiệp hội.
  5. Đóng hội phí đầy đủ và đúng hạn theo quy định của Hiệp hội.

Điều 11. Thủ tục, thẩm quyền kết nạp hội viên; thủ tục ra khỏi Hiệp hội

  1. Thủ tục, thẩm quyền kết nạp hội viên:
  2. a) Công dân, tổ chức Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực sơn – mực in; có đủ tiêu chuẩn theo quy định Điều lệ Hiệp hội, có nguyện vọng gia nhập Hiệp hội thì làm đơn gia nhập Hiệp hội theo mẫu do Hiệp hội quy định; kèm theo bản sao giấy phép thành lập, quyết định thành lập hoặc giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và 01 ảnh của người đại diện (đối với tổ chức) hoặc sơ yếu lý lịch tự khai, tự chịu trách nhiệm và 01 ảnh (đối với cá nhân) gửi Văn phòng Hiệp hội;
  3. b) Văn phòng Hiệp hội tổng hợp, báo cáo Ban Thường vụ Hiệp hội; căn cứ quy chế làm việc, Ban Thường vụ Hiệp hội ra quyết định kết nạp hội viên và thông báo đến Ban Chấp hành Hiệp hội tại kỳ họp gần nhất của Ban Chấp hành;
  4. c) Sau khi nhận được quyết định kết nạp hội viên của Ban Thường vụ Hiệp hội, hội viên đóng hội phí theo quy định và được cấp thẻ hội viên của Hiệp hội.
  5. Thủ tục ra khỏi Hiệp hội:
  6. a) Hội viên tự xét thấy không thể tiếp tục là hội viên của Hiệp hội thì làm đơn xin ra khỏi Hiệp hội (Đơn theo mẫu của Hiệp hội) gửi Ban Thường vụ Hiệp hội;
  7. b) Ban Thường vụ Hiệp hội xem xét, quyết định chấm dứt tư cách hội viên và thông báo đến Ban Chấp hành, hội viên của Hiệp hội tại kỳ họp Ban Chấp hành gần nhất để Ban Chấp hành ban hành quyết định chuẩn y đối với Quyết định này của Ban Thường vụ.
  8. Chấm dứt tư cách hội viên:
  9. a) Tư cách hội viên của Hiệp hội đương nhiên bị chấm dứt khi xảy ra một trong những trường hợp sau đây:

– Hội viên hoạt động trái với quy định của pháp luật Việt Nam dẫn đến bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định truy cứu trách nhiệm hình sự, bị tước quyền công dân theo quy định của pháp luật;

– Tổ chức tự ngừng hoạt động, bị đình chỉ hoạt động, bị giải thể hoặc bị tuyên bố phá sản theo quy định của pháp luật;

– Không đóng hội phí trong 01 (một) năm mà không có lý do đề nghị bằng văn bản gửi Ban Chấp hành Hiệp hội chậm nhất 15 (mười lăm) ngày trước ngày 31 tháng 12 của năm hiện tại (năm đóng hội phí);

– Không tham dự hai kỳ họp hội nghị thường niên (hội nghị hàng năm) do Hiệp hội tổ chức (nếu có) mà không có văn bản báo cáo nêu rõ lý do.

  1. b) Ban Thường vụ Hiệp hội xem xét, ban hành quyết định về việc xóa tên hội viên và thông báo đến Ban Chấp hành, hội viên của Hiệp hội tại kỳ họp Ban Chấp hành gần nhất để Ban Chấp hành ban hành quyết định chuẩn y đối với Quyết định này của Ban Thường vụ; đối với trường hợp này, hội viên;
  2. c) Hội viên bị chấm dứt tư cách hội viên của Hiệp hội có quyền khiếu nại lên Đại hội và quyết định của Đại hội là quyết định cuối cùng để các bên đương nhiên phải tuân theo
  3. Hội viên là cá nhân bị chết thì Ban Thường vụ Hiệp hội ra quyết định xóa tên hội viên và thông báo đến Ban Chấp hành, hội viên của Hiệp hội tại kỳ họp Ban Chấp hành gần nhất.

 Chương IV

TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG

 Điều 12. Cơ cấu tổ chức của Hiệp hội

  1. Đại hội.
  2. Ban Chấp hành.
  3. Ban Thường vụ.
  4. Ban Kiểm tra.
  5. Văn phòng, các ban chuyên môn.
  6. Các tổ chức thuộc Hiệp hội được thành lập theo quy định của pháp luật và Điều lệ Hiệp hội.
  7. Các hội (hoặc hiệp hội) sơn – mực in được thành lập tại các địa phương theo quy định của pháp luật tự nguyện tham gia là hội viên tổ chức chính thức của Hiệp hội.

Điều 13. Đại hội

  1. Cơ quan lãnh đạo cao nhất của Hiệp hội là Đại hội (Đại hội nhiệm kỳ hoặc Đại hội bất thường). Đại hội được tổ chức 05 (năm) năm một lần, do Ban Chấp hành triệu tập.

Đại hội bất thường được triệu tập khi có ít nhất 2/3 (hai phần ba) tổng số ủy viên Ban Chấp hành hoặc có ít nhất 1/2 (một phần hai) tổng số hội viên chính thức có đề nghị bằng văn bản.

  1. Đại hội nhiệm kỳ hoặc Đại hội bất thường được tổ chức dưới hình thức Đại hội toàn thể hoặc Đại hội đại biểu, số lượng, thành phần đại biểu do Ban Chấp hành quyết định. Đại hội toàn thể hoặc Đại hội đại biểu được coi là hợp lệ khi có trên 1/2 (một phần hai) số hội viên chính thức hoặc có trên 1/2 (một phần hai) số đại biểu chính thức được triệu tập có mặt.
  2. Nhiệm vụ của Đại hội:
  3. a) Thảo luận và thông qua Báo cáo tổng kết nhiệm kỳ; phương hướng, nhiệm vụ nhiệm kỳ mới của Hiệp hội;
  4. b) Thảo luận và thông qua Điều lệ (sửa đổi, bổ sung); đổi tên, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, giải thể Hiệp hội (nếu có);
  5. c) Thảo luận, góp ý kiến vào báo cáo kiểm điểm của Ban Chấp hành và báo cáo tài chính của Hiệp hội;
  6. d) Bầu Ban Chấp hành và Ban Kiểm tra Hiệp hội;

đ) Quyết định các nội dung khác vượt quá thẩm quyền của Ban Chấp hành theo quy định Hiệp hội;

  1. e) Thông qua nghị quyết Đại hội.
  2. Nguyên tắc biểu quyết tại Đại hội:
  3. a) Đại hội có thể biểu quyết bằng hình thức giơ tay hoặc bỏ phiếu kín. Việc quy định hình thức biểu quyết do Đại hội quyết định;
  4. b) Các quyết định của Đại hội phải được quá 1/2 (một phần hai) đại biểu chính thức có mặt tại Đại hội biểu quyết tán thành.

Điều 14. Ban Chấp hành

  1. Ban Chấp hành Hiệp hội là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Hiệp hội do Đại hội bầu trong số hội viên chính thức theo quy định của pháp luật của Hiệp hội. Số lượng, cơ cấu, tiêu chuẩn ủy viên Ban Chấp hành do Đại hội quyết định. Nhiệm kỳ của Ban Chấp hành cùng với nhiệm kỳ của Đại hội.
  2. Nhiệm vụ của Ban Chấp hành:
  3. a) Tổ chức triển khai thực hiện nghị quyết Đại hội, Điều lệ Hiệp hội, lãnh đạo mọi hoạt động của Hiệp hội giữa hai kỳ Đại hội;
  4. b) Chuẩn bị nội dung và quyết định triệu tập Đại hội;
  5. c) Quyết định chương trình, kế hoạch công tác hàng năm của Hiệp hội;
  6. d) Quyết định cơ cấu tổ chức bộ máy của Hiệp hội, ban hành Quy chế hoạt động của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ; quy chế quản lý, sử dụng tài chính, tài sản của Hiệp hội; quy chế quản lý, sử dụng con dấu của Hiệp hội phù hợp quy định của pháp luật; quy chế khen thưởng, kỷ luật; các quy định trong nội bộ Hiệp hội phù hợp với quy định của pháp luật và Điều lệ Hiệp hội.

đ) Bầu, miễn nhiệm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, ủy viên Ban Thường vụ, Tổng thư ký Hiệp hội, bầu bổ sung ủy viên Ban Chấp hành. Số lượng ủy viên Ban Chấp hành bầu bổ sung không được quá 1/3 (một phần ba) số lượng ủy viên Ban Chấp hành đã được Đại hội quyết định.

  1. Nguyên tắc hoạt động của Ban Chấp hành:
  2. a) Ban Chấp hành hoạt động theo Quy chế do Ban Chấp hành Hiệp hội ban hành, tuân thủ quy định của pháp luật và Điều lệ Hiệp hội;
  3. b) Ban Chấp hành họp mỗi năm 02 (hai) lần, có thể họp bất thường khi có yêu cầu của Ban Thường vụ hoặc trên 1/2 (một phần hai) tổng số ủy viên Ban Chấp hành đề nghị;
  4. c) Các cuộc họp Ban Chấp hành là hợp lệ khi có 2/3 (hai phần ba) số ủy viên Ban Chấp hành tham gia dự họp. Ban Chấp hành có thể biểu quyết bằng hình thức giơ tay hoặc bỏ phiếu kín, việc quy định hình thức biểu quyết do Ban Chấp hành quyết định;
  5. d) Các nghị quyết, quyết định của Ban Chấp hành được thông qua khi có ít nhất 2/3 (hai phần ba) tổng số ủy viên Ban Chấp hành dự họp biểu quyết tán thành.

Điều 15. Ban Thường vụ

  1. Ban Thường vụ Hiệp hội là cơ quan lãnh đạo, điều hành hoạt động của Hiệp hội giữa hai kỳ họp Ban Chấp hành Hiệp hội, do Ban Chấp hành Hiệp hội bầu trong số các ủy viên Ban Chấp hành Hiệp hội; Ban Thường vụ Hiệp hội gồm: Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các ủy viên. Số lượng, cơ cấu, tiêu chuẩn ủy viên Ban Thường vụ Hiệp hội do Ban Chấp hành Hiệp hội quyết định. Nhiệm kỳ của Ban Thường vụ Hiệp hội cùng với nhiệm kỳ Đại hội.
  2. Nhiệm vụ và quyền hạn của Ban Thường vụ:
  3. a) Giúp Ban Chấp hành triển khai thực hiện nghị quyết Đại hội, Điều lệ Hiệp hội; tổ chức thực hiện nghị quyết, quyết định của Ban Chấp hành; lãnh đạo hoạt động của Hiệp hội giữa hai kỳ họp Ban Chấp hành;
  4. b) Chuẩn bị nội dung và quyết định triệu tập họp Ban Chấp hành;
  5. c) Quyết định thành lập các tổ chức, đơn vị trực thuộc Hiệp hội theo nghị quyết của Ban Chấp hành; quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cơ cấu tổ chức; quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm lãnh đạo các tổ chức, đơn vị thuộc Hiệp hội theo đúng quy định của pháp luật và Điều lệ Hiệp hội;
  6. d) Kết nạp, xem xét cho hội viên ra khỏi Hiệp hội; khen thưởng, kỷ luật hội viên.
  7. Nguyên tắc hoạt động của Ban Thường vụ:
  8. a) Ban Thường vụ hoạt động theo quy chế do Ban Chấp hành ban hành, tuân thủ quy định của pháp luật và Điều lệ Hiệp hội;
  9. b) Ban Thường vụ mỗi năm họp hai lần, có thể họp bất thường khi có yêu cầu của Chủ tịch Hiệp hội hoặc trên 2/3 (hai phần ba) số ủy viên Ban Thường vụ có ý kiến bằng văn bản;
  10. c) Các cuộc họp của Ban Thường vụ là hợp lệ khi có 2/3 (hai phần ba) số ủy viên Ban Thường vụ tham gia dự họp. Ban Thường vụ có thể biểu quyết bằng hình thức giơ tay hoặc bỏ phiếu kín, việc quy định hình thức biểu quyết do Ban Thường vụ quyết định;
  11. d) Các nghị quyết, quyết định của Ban Thường vụ được thông qua khi có ít nhất 2/3 (hai phần ba) tổng số ủy viên Ban Thường vụ dự họp biểu quyết tán thành.

Điều 16. Ban Kiểm tra Hiệp hội

  1. Ban Kiểm tra Hiệp hội gồm: Trưởng ban, Phó Trưởng ban và một số ủy viên do Đại hội bầu ra. Số lượng, cơ cấu, tiêu chuẩn ủy viên Ban Kiểm tra do Đại hội quyết định. Nhiệm kỳ của Ban Kiểm tra cùng với nhiệm kỳ Đại hội.
  2. Nhiệm vụ và quyền hạn của Ban Kiểm tra:
  3. a) Kiểm tra, giám sát việc thực hiện Điều lệ Hiệp hội, nghị quyết Đại hội, nghị quyết, quyết định của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ, các quy chế của Hiệp hội trong hoạt động của các tổ chức, đơn vị trực thuộc Hiệp hội, hội viên;
  4. b) Xem xét, giải quyết đơn, thư kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của tổ chức, công dân và hội viên gửi đến Hiệp hội.
  5. Ban Kiểm tra hoạt động theo quy chế do Ban Kiểm tra ban hành sau khi có ý kiến của Ban Chấp hành trên cơ sở tuân thủ quy định của pháp luật và Điều lệ Hiệp hội.

Điều 17. Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hiệp hội

  1. Chủ tịch Hiệp hội do Ban Chấp hành Hiệp hội bầu trong số các ủy viên Ban Chấp hành Hiệp hội theo nguyên tắc đảm bảo đạt được sự đồng thuận của 2/3 (hai phần ba) số ủy viên Ban Chấp hành Hiệp hội có mặt dự họp theo quy định của pháp luật và Điều lệ Hiệp hội. Tiêu chuẩn Chủ tịch Hiệp hội do Ban Chấp hành Hiệp hội quy định.
  2. Chủ tịch Hiệp hội là người đại diện pháp nhân của Hiệp hội trước pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi hoạt động của Hiệp hội.
  3. Nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch Hiệp hội:
  4. a) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy chế hoạt động của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Hiệp hội;
  5. b) Chịu trách nhiệm toàn diện trước cơ quan có thẩm quyền cho phép thành lập Hiệp hội, cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực hoạt động chính của Hiệp hội, trước Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Hiệp hội về mọi hoạt động của Hiệp hội; chỉ đạo, điều hành mọi hoạt động của Hiệp hội theo quy định của pháp luật, Điều lệ Hiệp hội, nghị quyết, quyết định của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Hiệp hội;
  6. c) Chủ trì các phiên họp của Ban Chấp hành; chỉ đạo chuẩn bị, triệu tập và chủ trì các cuộc họp của Ban Thường vụ;
  7. d) Thay mặt Ban Chấp hành, Ban Thường vụ ký các văn bản của Hiệp hội;

đ) Khi Chủ tịch Hiệp hội vắng mặt, việc chỉ đạo, điều hành giải quyết công việc của Hiệp hội được ủy quyền bằng văn bản cho một Phó Chủ tịch Hiệp hội.

  1. Phó Chủ tịch Hiệp hội do Ban Chấp hành bầu trong số các ủy viên Ban Chấp hành Hiệp hội. Tiêu chuẩn Phó Chủ tịch Hiệp hội do Ban Chấp hành Hiệp hội quy định.

Phó Chủ tịch Hiệp hội giúp Chủ tịch Hiệp hội chỉ đạo, điều hành công tác của Hiệp hội theo sự phân công của Chủ tịch Hiệp hội; chịu trách nhiệm trước Chủ tịch Hiệp hội và trước pháp luật về công việc được Chủ tịch phân công hoặc ủy quyền. Phó Chủ tịch Hiệp hội thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo Quy chế hoạt động của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Hiệp hội.

Điều 18. Văn phòng, văn phòng đại diện và các ban chuyên môn của Hiệp hội

  1. Văn phòng Hiệp hội và các ban chuyên môn của Hiệp hội là bộ phận giúp việc Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Hiệp hội; được tổ chức và hoạt động theo quy chế do Ban Thường vụ Hiệp hội ban hành phù hợp với quy định của pháp luật, Điều lệ Hiệp hội, quy chế làm việc của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Hiệp hội.
  2. Văn phòng đại diện Hiệp hội là cơ quan trực thuộc Hiệp hội, giúp việc cho Hiệp hội, được thành lập ở các địa phương theo quy định của pháp luật và Điều lệ Hiệp hội.
  3. Nhân viên Văn phòng, văn phòng đại diện, các ban chuyên môn của Hiệp hội được tuyển dụng, quản lý, sử dụng theo quy định của Bộ luật lao động, quy định của Điều lệ Hiệp hội và các quy định pháp luật khác có liên quan.
  4. Kinh phí hoạt động của Văn phòng, văn phòng đại diện và các ban chuyên môn của Hiệp hội do Tổng thư ký Hiệp hội dự trù trình Ban Thường vụ Hiệp hội phê duyệt.

Điều 19. Tổng thư ký, Phó Tổng thư ký Hiệp hội

  1. Tổng thư ký Hiệp hội
  2. a) Tổng thư ký Hiệp hội là người giúp việc cho Chủ tịch Hiệp hội điều hành công việc hàng ngày của Hiệp hội theo nghị quyết, chương trình, kế hoạch công tác và theo quy chế của Hiệp hội đã được Đại hội, Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Hiệp hội thông qua.
  3. b) Tổng thư ký do Ban Chấp hành Hiệp hội bầu, miễn nhiệm và có thể làm việc theo chế độ chuyên trách hoặc kiêm nhiệm.
  4. c) Tổng thư ký là người điều hành trực tiếp mọi hoạt động của Văn phòng Hiệp hội và có những nhiệm vụ sau:

– Xây dựng dự thảo quy chế hoạt động của Văn phòng Hiệp hội, dự thảo quy chế quản lý tài chính, tài sản của Hiệp hội trình Ban Thường vụ thông qua và báo cáo Ban Chấp hành Hiệp hội để Ban Chấp hành Hiệp hội ra quyết định ban hành bằng văn bản;

– Định kỳ báo cáo Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Hiệp hội các hoạt động của Hiệp hội theo quy định của Điều lệ Hiệp hội, quy chế làm việc của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Hiệp hội;

– Lập báo cáo hàng năm, báo cáo nhiệm kỳ của Ban Chấp hành Hiệp hội;

– Quản lý tài liệu của Hiệp hội theo quy định của Điều lệ Hiệp hội, quy chế làm việc của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Hiệp hội và Văn phòng Hiệp hội;

– Thư ký các kỳ Đại hội, các cuộc họp của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Hiệp hội;

– Chịu trách nhiệm trước Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Hiệp hội, Hiệp hội và trước pháp luật về các hoạt động của Văn phòng Hiệp hội.

  1. Phó Tổng thư ký Hiệp hội
  2. a) Phó Tổng thư ký Hiệp hội do Tổng thư ký Hiệp hội đề nghị, được Ban Thường vụ Hiệp hội chấp thuận bằng văn bản và Chủ tịch Hiệp hội ra quyết định bổ nhiệm.
  3. b) Chịu trách nhiệm giúp việc cho Tổng thư ký Hiệp hội, thực hiện những công việc được Tổng thư ký Hiệp hội phân công và thay mặt Tổng thư ký Hiệp hội khi Tổng thư ký Hiệp hội vắng mặt hoặc ủy quyền theo quy chế làm việc của Văn phòng Hiệp hội.

 

Chương V

CHIA, TÁCH; SÁP NHẬP;

HỢP NHẤT; ĐỔI TÊN VÀ GIẢI THỂ

 Điều 20. Chia, tách; sáp nhập; hợp nhất; đổi tên và giải thể Hiệp hội

Việc chia; tách; sáp nhập; hợp nhất; đổi tên và giải thể Hiệp hội thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự, quy định của pháp luật về hội, nghị quyết Đại hội và các quy định pháp luật khác có liên quan.

 Chương VI

TÀI CHÍNH VÀ TÀI SẢN

 Điều 21. Tài chính, tài sản của Hiệp hội

  1. Tài chính của Hiệp hội
  2. a) Nguồn thu của Hiệp hội:

– Lệ phí gia nhập Hiệp hội; hội phí hàng năm của hội viên;

– Thu từ các hoạt động của Hiệp hội theo quy định của pháp luật;

– Tiền tài trợ, ủng hộ của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật;

– Các khoản thu hợp pháp khác.

  1. b) Các khoản chi của Hiệp hội:

– Chi hoạt động thực hiện nhiệm vụ của Hiệp hội;

– Chi thuê trụ sở làm việc, mua sắm phương tiện làm việc;

– Chi thực hiện chế độ, chính sách đối với những người làm việc tại Hiệp hội theo quy định của Ban Chấp hành Hiệp hội phù hợp với quy định của pháp luật;

– Chi khen thưởng và các khoản chi khác theo quy định của Ban Chấp hành.

  1. Tài sản của Hiệp hội bao gồm: Trụ sở, trang thiết bị, phương tiện phục vụ hoạt động của Hiệp hội; tài sản của Hiệp hội được hình thành từ nguồn kinh phí của Hiệp hội, do các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước hiến, tặng theo quy định của pháp luật.

Điều 22. Quản lý, sử dụng tài chính, tài sản của Hiệp hội

  1. Tài chính, tài sản của Hiệp hội chỉ được sử dụng cho các hoạt động của Hiệp hội.
  2. Tài chính, tài sản của Hiệp hội khi chia, tách, sáp nhập, hợp nhất và giải thể Hiệp hội được giải quyết theo quy định của pháp luật.
  3. Ban Chấp hành Hiệp hội ban hành Quy chế quản lý, sử dụng tài chính, tài sản của Hiệp hội đảm bảo nguyên tắc công khai, minh bạch, tiết kiệm phù hợp với quy định của pháp luật và tôn chỉ, mục đích hoạt động của Hiệp hội.

Chương VII

KHEN THƯỞNG VÀ KỶ LUẬT

 Điều 23. Khen thưởng

  1. Tổ chức, đơn vị thuộc Hiệp hội, hội viên có thành tích xuất sắc được Hiệp hội khen thưởng hoặc được Hiệp hội đề nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khen thưởng theo quy định của pháp luật.
  2. Ban Chấp hành Hiệp hội quy định cụ thể hình thức, thẩm quyền, thủ tục khen thưởng trong nội bộ Hiệp hội theo quy định của pháp luật và Điều lệ Hiệp hội.

Điều 24. Kỷ luật

  1. Tổ chức, đơn vị thuộc Hiệp hội, hội viên vi phạm pháp luật, vi phạm Điều lệ Hiệp hội, vi phạm quy định, quy chế hoạt động của Hiệp hội thì bị xem xét, thi hành kỷ luật bằng các hình thức: Khiển trách, cảnh cáo, khai trừ.
  2. Ban Chấp hành Hiệp hội quy định cụ thể thẩm quyền, quy trình xem xét kỷ luật trong nội bộ Hiệp hội theo quy định của pháp luật và Điều lệ Hiệp hội.

 Chương VIII

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

 Điều 25. Sửa đổi, bổ sung Điều lệ Hiệp hội

Chỉ có Đại hội Hiệp hội Sơn – Mực in Việt Nam mới có quyền sửa đổi, bổ sung Điều lệ này. Việc sửa đổi, bổ sung Điều lệ Hiệp hội phải được ít nhất 2/3 (hai phần ba) số đại biểu chính thức có mặt tại Đại hội tán thành.

Điều 26. Hiệu lực thi hành

  1. Điều lệ Hiệp hội Sơn – Mực in Việt Nam gồm 8 (tám) Chương, 26 (hai mươi sáu) Điều đã được Đại hội nhiệm kỳ II (2013 – 2018) Hiệp hội Sơn – Mực in Việt Nam thông qua ngày 31 tháng 5 năm 2013 tại Thành phố Hồ Chí Minh và có hiệu lực thi hành theo Quyết định phê duyệt của Bộ trưởng Bộ Nội vụ.
  2. Căn cứ quy định pháp luật về hội và Điều lệ Hiệp hội, Ban Chấp hành Hiệp hội Sơn – Mực in Việt Nam có trách nhiệm hướng dẫn và tổ chức thực hiện Điều lệ này./.

KT. BỘ TRƯỞNG

THỨ TRƯỞNG

 (Đã ký)

Nguyễn Tiến Dĩnh

Đơn đăng ký Hội viên VPIA – dành cho tổ chức

Đơn đăng ký Hội viên VPIA – dành cho Cá nhân

Quy trình gia nhập Hiệp hội Sơn- Mực in Việt Nam:

1. Điền đầy đủ thông tin vào Đơn đăng ký tham gia Hiệp hội Sơn – Mực in Việt Nam (kèm theo các văn bản như yêu cầu) như file download ở trên.

2. Gửi những thủ tục nêu trên về văn phòng Hiệp hội Sơn- Mực in Việt Nam bằng đường bưu điện (Phòng 102, Vp. Đăng Minh, L11- L12 KDC Miếu Nổi, Phường 3, Q. Bình Thạnh, TPHCM)  hoặc scan màu gửi qua email văn phòng VPIA (email: vpia@vpia.org.vn).

3. Nhận thông báo từ văn phòng Hiệp hội (xác nhận hoàn tất hồ sơ hoặc bổ sung các giấy tờ cần thiết (nếu có)).

4. Nộp hội phí VPIA (nộp tại văn phòng hoặc chuyển khoản).

5. Văn phòng VPIA gửi email xác nhận và Phiếu thu Hội phí về địa chỉ Công ty đã cung cấp trong Đơn gia nhập.

Mọi thông tin, xin vui lòng liên hệ:

Văn phòng Hiệp hội Sơn- Mực in Việt Nam

Thư ký văn phòng: Yến Nhi (0985 119 434)

Phòng 102, Vp. Đăng Minh, L11- L12 KDC Miếu Nổi, Phường 3, Q. Bình Thạnh, TPHCM.

ĐT: (028) 3517 1967 – Fax: (028) 3517 6014

Email: vpia@vpia.org.vn

Đang cập nhật …

Chúng tôi là ai

Địa chỉ website là: https://vpia.org.vn.

Thông tin cá nhân nào bị thu thập và tại sao thu thập

Bình luận

Khi khách truy cập để lại bình luận trên trang web, chúng tôi thu thập dữ liệu được hiển thị trong biểu mẫu bình luận và cũng là địa chỉ IP của người truy cập và chuỗi user agent của người dùng trình duyệt để giúp phát hiện spam

Một chuỗi ẩn danh được tạo từ địa chỉ email của bạn (còn được gọi là hash) có thể được cung cấp cho dịch vụ Gravatar để xem bạn có đang sử dụng nó hay không. Chính sách bảo mật của dịch vụ Gravatar có tại đây: https://automattic.com/privacy/. Sau khi chấp nhận bình luận của bạn, ảnh tiểu sử của bạn được hiển thị công khai trong ngữ cảnh bình luận của bạn.

Thư viện

Nếu bạn tải hình ảnh lên trang web, bạn nên tránh tải lên hình ảnh có dữ liệu vị trí được nhúng (EXIF GPS) đi kèm. Khách truy cập vào trang web có thể tải xuống và giải nén bất kỳ dữ liệu vị trí nào từ hình ảnh trên trang web.

Thông tin liên hệ

Cookies

Nếu bạn viết bình luận trong website, bạn có thể cung cấp cần nhập tên, email địa chỉ website trong cookie. Các thông tin này nhằm giúp bạn không cần nhập thông tin nhiều lần khi viết bình luận khác. Cookie này sẽ được lưu giữ trong một năm.

Nếu bạn có tài khoản và đăng nhập và website, chúng tôi sẽ thiết lập một cookie tạm thời để xác định nếu trình duyệt cho phép sử dụng cookie. Cookie này không bao gồm thông tin cá nhân và sẽ được gỡ bỏ khi bạn đóng trình duyệt.

Khi bạn đăng nhập, chúng tôi sẽ thiết lập một vài cookie để lưu thông tin đăng nhập và lựa chọn hiển thị. Thông tin đăng nhập gần nhất lưu trong hai ngày, và lựa chọn hiển thị gần nhất lưu trong một năm. Nếu bạn chọn "Nhớ tôi", thông tin đăng nhập sẽ được lưu trong hai tuần. Nếu bạn thoát tài khoản, thông tin cookie đăng nhập sẽ bị xoá.

Nếu bạn sửa hoặc công bố bài viết, một bản cookie bổ sung sẽ được lưu trong trình duyệt. Cookie này không chứa thông tin cá nhân và chỉ đơn giản bao gồm ID của bài viết bạn đã sửa. Nó tự động hết hạn sau 1 ngày.

Nội dung nhúng từ website khác

Các bài viết trên trang web này có thể bao gồm nội dung được nhúng (ví dụ: video, hình ảnh, bài viết, v.v.). Nội dung được nhúng từ các trang web khác hoạt động theo cùng một cách chính xác như khi khách truy cập đã truy cập trang web khác.

Những website này có thể thu thập dữ liệu về bạn, sử dụng cookie, nhúng các trình theo dõi của bên thứ ba và giám sát tương tác của bạn với nội dung được nhúng đó, bao gồm theo dõi tương tác của bạn với nội dung được nhúng nếu bạn có tài khoản và đã đăng nhập vào trang web đó.

Phân tích

Chúng tôi chia sẻ dữ liệu của bạn với ai

Dữ liệu của bạn tồn tại bao lâu

Nếu bạn để lại bình luận, bình luận và siêu dữ liệu của nó sẽ được giữ lại vô thời hạn. Điều này là để chúng tôi có thể tự động nhận ra và chấp nhận bất kỳ bình luận nào thay vì giữ chúng trong khu vực đợi kiểm duyệt.

Đối với người dùng đăng ký trên trang web của chúng tôi (nếu có), chúng tôi cũng lưu trữ thông tin cá nhân mà họ cung cấp trong hồ sơ người dùng của họ. Tất cả người dùng có thể xem, chỉnh sửa hoặc xóa thông tin cá nhân của họ bất kỳ lúc nào (ngoại trừ họ không thể thay đổi tên người dùng của họ). Quản trị viên trang web cũng có thể xem và chỉnh sửa thông tin đó.

Các quyền nào của bạn với dữ liệu của mình

Nếu bạn có tài khoản trên trang web này hoặc đã để lại nhận xét, bạn có thể yêu cầu nhận tệp xuất dữ liệu cá nhân mà chúng tôi lưu giữ về bạn, bao gồm mọi dữ liệu bạn đã cung cấp cho chúng tôi. Bạn cũng có thể yêu cầu chúng tôi xóa mọi dữ liệu cá nhân mà chúng tôi lưu giữ về bạn. Điều này không bao gồm bất kỳ dữ liệu nào chúng tôi có nghĩa vụ giữ cho các mục đích hành chính, pháp lý hoặc bảo mật.

Các dữ liệu của bạn được gửi tới đâu

Các bình luận của khách (không phải là thành viên) có thể được kiểm tra thông qua dịch vụ tự động phát hiện spam.

Thông tin liên hệ của bạn

Thông tin bổ sung

Cách chúng tôi bảo vệ dữ liệu của bạn

Các quá trình tiết lộ dữ liệu mà chúng tôi thực hiện

Những bên thứ ba chúng tôi nhận dữ liệu từ đó

Việc quyết định và/hoặc thu thập thông tin tự động mà chúng tôi áp dụng với dữ liệu người dùng

Các yêu cầu công bố thông tin được quản lý

Gửi email liên hệ

Thông tin liên hệ

Phòng 102 Văn Phòng Đăng Minh, L11 – L12 KDC Miếu Nổi, Phường 3, Quận Bình Thạnh, Tp.HCM

(84-028) 35171967 – Fax: (84-028) 3517 6014

vpia@vpia.org.vn

Welcome to

Hiệp hội Sơn - Mực In Việt Nam

Giới thiệu chung
Hiệp Hội Sơn – Mực in Việt Nam được thành lập vào ngày 25/04/2008 tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Tên tiếng Anh: Vietnam Paint & Printing Ink Association
Tên viết tắt: VPIA
Trụ sở Hiệp hội:
Phòng 102, Vp. Đăng Minh, L11- L12 Khu Dân cư Miếu nổi, Phường 3, Quận Bình Thạnh, TPHCM
ĐT: (028) 3517 1967 - Fax: (028) 3517 6014
Email: vpia@vpia.org.vn
Website: www.vpia.org.vn

Hiệp hội Sơn - Mực in Việt Nam - VPIA

Mục tiêu của VPIA
Là tiếng nói của ngành, Hiệp Hội sơn – mực in Việt Nam nâng cao hiệu quả trong các hoạt động của mình để mang lại lợi ích tốt nhất của các hội viên. Hợp tác với các cơ quan chức năng của nhà nước và cộng đồng để đẩy mạnh việc phát triển bền vững thông qua việc cung cấp các sản phẩm có chất lượng, an toàn, sức khỏe và bảo vệ môi trường.

Sứ mệnh của VPIA
– Tham gia và cộng tác với các cơ quan chức năng của nhà nước các cấp, liên quan đến việc ban hành các văn bản pháp qui của ngành, với mục đích mang lại lợi ích tốt nhất cho cộng đồng, xã hội, môi trường và ngành công nghiệp sơn –mực in.
– Đại diện cho ngành công nghiệp Sơn– Mực in trước nhà nước, chính quyền và xã hội.
– Cung cấp các thông tin và dịch vụ tư vấn liên quan đến ngành nghề.
– Thúc đẩy trách nhiệm xã hội trong nội bộ ngành công nghiệp sơn- mực in Việt Nam
– Thể hiện vai trò đầu tàu và điều hành có trách nhiệm.

Quyết định thành lập Hiệp hội Sơn- Mực in Việt Nam được Bộ Nội Vụ phê duyệt.

Tin tức Hiệp hội

Load More

Hội nghị - Hội chợ - Triển lãm

Load More

Thị trường - Kinh tế - Xã hội

Load More